Attachment trauma ảnh hưởng khả năng yêu thương hiện tại như thế nào?

by Tâm Lý Gia Võ Đạt
0 comments
Hình minh họa một người vừa mong muốn được yêu thương vừa cảm thấy lo sợ, bất an khi bước vào một mối quan hệ thân mật do những tổn thương gắn bó trước đây.

Attachment trauma – sang chấn gắn bó – có thể khiến một người vừa khao khát được yêu thương, vừa cảm thấy không an toàn khi thực sự đến gần người khác. Những trải nghiệm bị bỏ rơi, thiếu nhất quán, bạo lực hoặc tổn thương trong các mối quan hệ đầu đời có thể ảnh hưởng đến cách họ tin tưởng, gắn bó và phản ứng trước nguy cơ mất đi một mối quan hệ ở tuổi trưởng thành.

“Attachment trauma” hay đôi khi được gọi phổ biến là “đứt gãy gắn bó” không phải một chẩn đoán chính thức trong DSM-5-TR hoặc ICD-11. Đây là cách mô tả những tổn thương xảy ra khi các mối quan hệ đáng lẽ đem lại sự an toàn lại trở thành nguồn của sợ hãi, bỏ bê, thiếu nhất quán hoặc tổn thương. Những trải nghiệm như vậy không làm một người mất khả năng yêu, nhưng có thể khiến tình yêu về sau luôn đi kèm với cảnh giác.

Sang chấn gắn bó hình thành như thế nào?

Trong những năm đầu đời, trẻ không chỉ cần được chăm sóc về thể chất mà còn dần học qua người chăm sóc rằng: “Khi mình sợ, liệu có ai đến?”, “Khi mình cần giúp đỡ, người khác có đáng tin không?” và “Mình có xứng đáng được quan tâm không?”.

Nếu sự chăm sóc tương đối ổn định, trẻ có nhiều cơ hội hình thành cảm giác rằng sự gần gũi có thể an toàn. Ngược lại, nếu người chăm sóc lúc yêu thương, lúc bỏ mặc; thường xuyên làm trẻ sợ hãi; chỉ đáp ứng tình cảm khi trẻ cư xử theo mong muốn; hoặc chính là người gây bạo lực, hệ thống gắn bó phải thích nghi với một tình huống phức tạp: người trẻ cần tìm đến để được bảo vệ cũng có thể là người gây tổn thương.

Các nghiên cứu cho thấy trải nghiệm bị ngược đãi thời thơ ấu có liên quan với mức độ lo âu và né tránh trong gắn bó ở tuổi trưởng thành. Một phân tích gộp gần đây tổng hợp 211 nghiên cứu với hơn 82.000 người ghi nhận mối liên hệ giữa ngược đãi thời thơ ấu và cả attachment anxiety lẫn attachment avoidance, dù mức liên hệ không có nghĩa quá khứ quyết định hoàn toàn tương lai của mỗi người.

Người từng tổn thương có còn khả năng yêu thương bình thường không?

Có. Sang chấn gắn bó không làm một người “hỏng khả năng yêu”. Thứ thường bị ảnh hưởng nhiều hơn là cảm giác an toàn khi yêu và khi được yêu.

Một người có thể yêu rất sâu sắc nhưng liên tục lo rằng đối phương sẽ rời bỏ mình. Người khác lại có tình cảm nhưng cảm thấy khó chịu khi mối quan hệ trở nên quá gần gũi. Có người rất muốn được chăm sóc nhưng khi được quan tâm lại nghi ngờ: “Họ muốn gì ở mình?” hoặc “Chắc rồi họ cũng sẽ thay đổi”.

APA mô tả attachment style ở người trưởng thành là cách tương đối đặc trưng mà một người liên hệ với người khác trong những mối quan hệ thân mật, chịu ảnh hưởng bởi cảm nhận về giá trị bản thân và mức độ tin tưởng giữa người với người.

Vì vậy, vấn đề thường không phải “không biết yêu”, mà là phải yêu trong khi hệ thống cảnh báo liên tục đặt câu hỏi liệu sự gần gũi có thực sự an toàn hay không.

Nỗi sợ bị bỏ rơi có thể khiến tình yêu trở thành trạng thái cảnh giác

Một biểu hiện thường gặp của gắn bó lo âu là đặc biệt nhạy cảm với những tín hiệu có thể được hiểu là từ chối. Người yêu trả lời tin nhắn chậm, ít nói hơn một ngày hoặc muốn có thời gian riêng có thể lập tức kích hoạt suy nghĩ: “Họ đã chán mình”, “Có người khác rồi” hoặc “Mình sắp bị bỏ lại”.

Khi nỗi sợ tăng lên, người đó có thể liên tục cần được trấn an, kiểm tra tình cảm của đối phương hoặc phản ứng mạnh trước những thay đổi nhỏ. Điều nghịch lý là càng sợ mất mối quan hệ, họ càng có thể thực hiện những hành vi làm cả hai bên kiệt sức.

Những phản ứng này không nhất thiết là cố tình kiểm soát. Trong nhiều trường hợp, người đó đang cố tìm lại cảm giác an toàn bằng những cách đã quen thuộc với mình.

Có người lại phản ứng bằng cách không cho ai đến quá gần

Sang chấn gắn bó không chỉ dẫn đến bám víu. Một chiến lược khác là né tránh sự thân mật.

Nếu việc dựa vào người khác từng nhiều lần dẫn đến thất vọng hoặc tổn thương, một người có thể học rằng cách an toàn nhất là không cần ai quá nhiều. Họ có thể tỏ ra rất độc lập, hiếm khi chia sẻ khó khăn, cảm thấy không thoải mái khi phải phụ thuộc hoặc rút lui mỗi khi mối quan hệ trở nên nghiêm túc.

Điều này không đồng nghĩa họ không có nhu cầu gắn bó. Đôi khi nhu cầu vẫn rất lớn, nhưng được bảo vệ bằng thông điệp: “Nếu mình không cần ai thì không ai có thể làm mình thất vọng”.

Ở một số người, hai phản ứng tưởng như trái ngược này còn xuất hiện xen kẽ: khi người kia ở xa thì rất muốn kéo họ lại, nhưng khi họ đến quá gần lại cảm thấy ngột ngạt và muốn chạy khỏi mối quan hệ.

Vì sao một cuộc tranh luận bình thường có thể trở nên quá đáng sợ?

Trong một mối quan hệ an toàn, bất đồng không đồng nghĩa với việc tình yêu kết thúc. Nhưng nếu trong quá khứ xung đột thường đi kèm bỏ rơi, im lặng kéo dài, bạo lực hoặc nhục mạ, hệ thần kinh có thể học rằng tranh luận là tín hiệu của nguy hiểm.

Khi đó, một bất đồng nhỏ trong hiện tại có thể kích hoạt phản ứng rất mạnh. Người đó có thể lập tức xin lỗi để cuộc tranh luận kết thúc, đông cứng không nói được gì, bỏ đi trước hoặc tức giận dữ dội để tự bảo vệ.

Sau khi bình tĩnh, họ đôi khi nhận ra phản ứng của mình lớn hơn tình huống. Nhưng trong thời điểm bị kích hoạt, cơ thể có thể đang phản ứng với cả xung đột hiện tại lẫn những trải nghiệm quan hệ cũ.

Tại sao người từng thiếu thốn tình cảm lại có thể khó tiếp nhận tình yêu?

Được yêu cũng đòi hỏi một mức độ dễ bị tổn thương. Muốn nhận sự chăm sóc, một người phải cho phép mình tin rằng người khác có thể ở đó mà không yêu cầu đổi lại điều gì.

Nếu tình cảm trong quá khứ thường có điều kiện, họ có thể thấy sự quan tâm chân thành trở nên đáng ngờ. Một người yêu ổn định đôi khi bị cảm nhận là “không đủ mãnh liệt”, trong khi những mối quan hệ lên xuống thất thường lại tạo cảm giác quen thuộc hơn.

Điều này không có nghĩa người từng tổn thương bị “thu hút tự nhiên bởi người độc hại”. Những trải nghiệm đầu đời chỉ là một trong nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ trưởng thành. Một phân tích gộp về ngược đãi cảm xúc thời thơ ấu ghi nhận mối liên hệ tiêu cực nhưng ở mức tương đối khiêm tốn với chất lượng mối quan hệ tình cảm sau này.

Nói cách khác, quá khứ có thể làm tăng một số khó khăn, nhưng không viết sẵn kết thúc của đời sống tình cảm.

Sang chấn gắn bó có thể khiến một người đánh mất chính mình trong tình yêu

Một số người học từ rất sớm rằng để giữ được mối quan hệ, họ phải làm người khác hài lòng. Khi trưởng thành, họ dễ bỏ qua nhu cầu cá nhân, khó nói “không”, thường xuyên xin lỗi hoặc cảm thấy có trách nhiệm với cảm xúc của bạn đời.

Họ có thể đặt câu hỏi “Làm sao để người đó không bỏ mình?” nhiều hơn “Mối quan hệ này có phù hợp với mình không?”.

Dần dần, tình yêu trở thành quá trình liên tục điều chỉnh bản thân để duy trì sự kết nối. Điều này có thể dẫn đến kiệt sức, mất ranh giới và khó phân biệt giữa yêu thương với hy sinh quá mức.

Ở chiều ngược lại, một số người tránh phụ thuộc hoàn toàn và không cho phép mình cần đến người khác. Cả hai chiến lược đều có thể từng giúp họ thích nghi, nhưng trở nên hạn chế khi mang nguyên vẹn vào các mối quan hệ trưởng thành.

Attachment trauma có khiến một người chọn sai bạn đời?

Không thể kết luận như vậy. Tuy nhiên, những trải nghiệm quan hệ đầu đời có thể ảnh hưởng đến cách chúng ta nhận diện sự thân mật và giải thích hành vi của người khác.

Một tổng quan hệ thống về chất lượng quan hệ cha mẹ – con cái và quan hệ tình cảm sau này cho thấy sự an toàn gắn bó và chất lượng tương tác trong gia đình có liên hệ với nhiều khía cạnh của quan hệ yêu đương trưởng thành. Nhưng các kết quả cũng cho thấy quá trình này chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác, không phải một con đường cố định từ tuổi thơ đến tình yêu.

Vì vậy, việc nói “bạn chọn người này vì trauma” thường quá đơn giản. Một mối quan hệ được hình thành từ tính cách, hoàn cảnh, giá trị sống, sự hấp dẫn, kinh nghiệm và lựa chọn của cả hai người.

Làm sao biết quá khứ đang ảnh hưởng đến mối quan hệ hiện tại?

Một dấu hiệu đáng chú ý là khi phản ứng hiện tại thường xuyên lớn hơn hoàn cảnh đang diễn ra. Chẳng hạn, một khoảng thời gian người yêu bận rộn lại tạo cảm giác như bị bỏ rơi hoàn toàn; một bất đồng nhỏ khiến bạn nghĩ mối quan hệ chắc chắn đã kết thúc; hoặc khi ai đó đối xử tốt, phản ứng đầu tiên lại là nghi ngờ.

Bạn cũng có thể nhận thấy cùng một khuôn mẫu lặp lại ở nhiều mối quan hệ: luôn yêu những người không sẵn sàng về cảm xúc, liên tục cần được trấn an, rút lui ngay khi mối quan hệ trở nên gần gũi hoặc thường xuyên hy sinh ranh giới để giữ người khác ở lại.

Những mô hình này không tự động chứng minh có attachment trauma. Nhưng chúng có thể là điểm khởi đầu hữu ích để tìm hiểu cách những trải nghiệm cũ đang ảnh hưởng đến lựa chọn và cảm xúc hiện tại.

Làm thế nào để xây dựng lại một kiểu gắn bó an toàn hơn?

Bước đầu tiên thường là nhận diện phản ứng trước khi hành động theo nó. Khi người yêu trả lời chậm và nỗi sợ bị bỏ rơi xuất hiện, có thể tạm dừng để phân biệt: “Điều gì thực sự đang xảy ra?” và “Điều gì mình đang dự đoán dựa trên trải nghiệm cũ?”.

Tiếp theo là học cách nói rõ nhu cầu thay vì kiểm tra hoặc thử thách tình cảm của đối phương. Thay vì im lặng để xem người kia có chủ động tìm mình hay không, có thể nói rằng mình đang cảm thấy bất an và cần một chút xác nhận. Với người có xu hướng né tránh, bước tiến đôi khi lại là cho phép bản thân chia sẻ một phần khó khăn thay vì luôn xử lý mọi thứ một mình.

Ranh giới cũng là một phần của gắn bó an toàn. Yêu thương không đòi hỏi phải chịu đựng mọi hành vi để tránh bị bỏ rơi. Một mối quan hệ an toàn cho phép cả hai người có nhu cầu riêng, nói “không”, bất đồng và vẫn duy trì sự tôn trọng.

Trị liệu tâm lý có thể giúp thay đổi kiểu gắn bó không?

Kiểu gắn bó không phải một đặc điểm bất biến suốt đời. Các mối quan hệ an toàn, trải nghiệm sống mới và tâm lý trị liệu đều có thể góp phần thay đổi cách một người trải nghiệm sự gần gũi.

Một phân tích gộp về tâm lý trị liệu cho thấy sự gia tăng mức độ an toàn trong gắn bó trong quá trình trị liệu có thể đi cùng kết quả điều trị tốt hơn; những người có mức an toàn gắn bó thấp cũng có thể hưởng lợi từ trị liệu chú trọng các mối quan hệ và tương tác giữa người với người. Nghiên cứu về psychotherapy dựa trên attachment cũng nhấn mạnh rằng mối quan hệ trị liệu an toàn có thể trở thành nơi người bệnh nhận diện và dần điều chỉnh những khuôn mẫu gắn bó cũ.

Điều trị không nhằm đổ lỗi cho cha mẹ hoặc đào lại mọi ký ức thời thơ ấu. Mục tiêu là hiểu những chiến lược nào từng giúp một người bảo vệ mình, nhận ra khi chúng không còn phù hợp và phát triển những cách kết nối linh hoạt hơn.

Khi nào nên tìm kiếm hỗ trợ?

Có thể cân nhắc gặp chuyên gia tâm lý khi nỗi sợ bị bỏ rơi, ghen tuông, né tránh thân mật hoặc các cuộc xung đột lặp đi lặp lại khiến bạn khó duy trì một mối quan hệ ổn định. Việc hỗ trợ cũng hữu ích nếu bạn nhận thấy mình liên tục chấp nhận những mối quan hệ gây tổn thương hoặc cảm thấy không thể tin tưởng bất kỳ ai dù rất muốn được kết nối.

Nếu quá khứ có bạo lực, lạm dụng hoặc những sang chấn nghiêm trọng đi kèm flashback, ác mộng, né tránh và trạng thái cảnh giác cao, việc đánh giá thêm PTSD hoặc C-PTSD có thể cần thiết thay vì chỉ nhìn vấn đề dưới góc độ attachment.

Chăm sóc tổn thương gắn bó cần nhìn cả con người và mối quan hệ

Các khó khăn trong gắn bó có thể đi cùng lo âu, mất ngủ, trầm cảm, căng thẳng, giảm ham muốn hoặc những xung đột kéo dài trong đời sống tình cảm. Việc chỉ tập trung vào “kiểu yêu” đôi khi không phản ánh hết những gì một người đang trải qua.

Văn phòng Tâm lý Men’s Health thuộc hệ sinh thái Trung tâm Sức khỏe Nam giới Men’s Health do TS.BS.CK2 Trà Anh Duy sáng lập được xây dựng theo hướng kết nối chăm sóc tâm lý với y khoa. Góc nhìn Thân – Tâm cho phép chuyên gia đồng thời xem xét cảm xúc, cách gắn bó, giấc ngủ, sức khỏe thể chất, sức khỏe tình dục và hoàn cảnh quan hệ, từ đó hỗ trợ đánh giá vấn đề toàn diện hơn.

Attachment trauma – Những câu hỏi thường gặp

Attachment trauma có phải một bệnh tâm thần không?

Không. Attachment trauma không phải chẩn đoán chính thức trong DSM-5-TR hoặc ICD-11. Đây là một khái niệm mô tả tổn thương trong những mối quan hệ gắn bó quan trọng và ảnh hưởng có thể có của chúng về sau.

Sợ bị bỏ rơi có nghĩa là tôi có attachment trauma?

Không nhất thiết. Sợ bị bỏ rơi có thể liên quan đến nhiều yếu tố như trải nghiệm mất mát, mối quan hệ gần đây, lo âu, rối loạn nhân cách hoặc kiểu gắn bó không an toàn. Cần nhìn vào toàn bộ bối cảnh.

Người gắn bó né tránh có phải không biết yêu?

Không. Họ vẫn có thể có nhu cầu và tình cảm sâu sắc, nhưng việc phụ thuộc, chia sẻ cảm xúc hoặc để người khác đến gần có thể làm họ cảm thấy không an toàn.

Có thể từ gắn bó không an toàn trở nên an toàn hơn không?

Có thể. Kiểu gắn bó không hoàn toàn cố định. Những mối quan hệ ổn định, khả năng tự nhận thức và trị liệu tâm lý có thể góp phần xây dựng cảm giác an toàn hơn trong sự gần gũi.

Tình yêu của một người tốt có thể tự chữa lành attachment trauma không?

Một mối quan hệ an toàn có thể hỗ trợ rất nhiều, nhưng bạn đời không nên phải trở thành nhà trị liệu. Những tổn thương sâu hoặc khuôn mẫu lặp lại vẫn có thể cần được xử lý trong trị liệu tâm lý.

Có phải mọi vấn đề tình cảm đều bắt nguồn từ tuổi thơ?

Không. Mối quan hệ hiện tại chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố. Lịch sử gắn bó là một phần của bức tranh chứ không phải lời giải thích duy nhất.

Kết luận

Attachment trauma không lấy đi khả năng yêu thương. Nó có thể khiến tình yêu đi kèm với những câu hỏi mà người khác ít phải đối diện hơn: “Người này có thực sự ở lại không?”, “Liệu mình có thể tin họ?” hoặc “Nếu mình cần họ quá nhiều, mình có lại bị tổn thương không?”.

Những phản ứng ấy thường từng có ý nghĩa bảo vệ trong những mối quan hệ thiếu an toàn. Nhưng chúng không bắt buộc phải tiếp tục quyết định cách một người yêu trong suốt cuộc đời. Khi nhận diện được khuôn mẫu cũ, học cách giao tiếp nhu cầu, xây dựng ranh giới và có thêm những trải nghiệm quan hệ ổn định, một người có thể dần hình thành cảm giác rằng gần gũi không nhất thiết đồng nghĩa với mất kiểm soát hay bị tổn thương.

You may also like

Chat Zalo

0888373979