Lo âu về tương lai ở người trẻ: Làm sao để bớt sợ?

by Tâm Lý Gia Võ Đạt
0 comments
Người trẻ lo âu về tương lai và cách vượt qua anticipatory anxiety

Lo âu về tương lai khiến người trẻ liên tục nghĩ đến tình huống xấu chưa xảy ra. Hiểu anticipatory anxiety và cách điều chỉnh tâm lý an toàn.

Lo âu về tương lai (anticipatory anxiety) là trạng thái một người cảm thấy căng thẳng, bất an hoặc sợ hãi khi hình dung những điều tiêu cực có thể xảy ra, dù hiện tại chưa có nguy hiểm rõ ràng. Ở người trẻ, nỗi lo về công việc, tài chính, tình cảm, sức khỏe và tương lai có thể khiến tâm trí liên tục sống trong những kịch bản “nếu như”. Điều quan trọng không phải là loại bỏ mọi lo âu, mà là học cách sống với sự không chắc chắn mà không để nỗi sợ kiểm soát cuộc sống.

Lo âu về tương lai (anticipatory anxiety) là gì?

Lo âu về tương lai, hay anticipatory anxiety, có thể hiểu là trạng thái lo lắng xuất hiện khi một người dự đoán rằng điều gì đó không mong muốn có thể xảy ra trong tương lai.

Nỗi lo đôi khi gắn với một sự kiện cụ thể, chẳng hạn phỏng vấn xin việc, thi cử, thuyết trình, hẹn hò, khám sức khỏe hoặc chờ kết quả xét nghiệm. Nhưng cũng có những lúc người trẻ chỉ cảm thấy một nỗi bất an khá mơ hồ:

“Không biết vài năm nữa mình sẽ thế nào?”

“Nếu mình chọn sai nghề thì sao?”

“Nếu cuối cùng mình không thành công?”

“Nếu mối quan hệ này kết thúc?”

“Nếu một ngày mình mắc bệnh nặng?”

“Nếu tất cả những gì đang ổn bỗng nhiên thay đổi?”

Bản thân anticipatory anxiety không nhất thiết là một chẩn đoán tâm thần độc lập. Lo âu trước một sự kiện chưa xảy ra có thể là phản ứng tâm lý thông thường, nhưng cũng có thể xuất hiện trong rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn hoảng sợ, lo âu xã hội, ám ảnh sợ hoặc một số vấn đề sức khỏe tâm thần khác. Vì vậy, không nên tự kết luận mình mắc một rối loạn chỉ vì thường xuyên lo về tương lai.

Điểm quan trọng nằm ở mức độ, thời gian kéo dài và ảnh hưởng của nỗi lo đối với cuộc sống.

Vì sao người trẻ dễ lo sợ mơ hồ về tương lai?

Tuổi trẻ thường là giai đoạn phải đưa ra nhiều quyết định trong khi kết quả của những quyết định ấy lại chưa thể biết trước.

Một người có thể đồng thời phải suy nghĩ về nghề nghiệp, tài chính, tình yêu, hôn nhân, gia đình, sức khỏe, nơi sống và vị trí của mình trong xã hội. Có rất nhiều lựa chọn nhưng cũng có rất ít điều chắc chắn.

Sự bất định này không phải lúc nào cũng tiêu cực. Nó cũng có nghĩa tương lai vẫn còn nhiều khả năng. Tuy nhiên, với người khó chịu đựng cảm giác không chắc chắn, tâm trí có xu hướng cố gắng dự đoán tất cả những gì có thể xảy ra để tạo cảm giác kiểm soát.

Nghiên cứu về lo âu từ lâu đã xem “khó dung nạp sự không chắc chắn” – intolerance of uncertainty – là một cơ chế quan trọng liên quan đến lo lắng. Khi một người cảm thấy mình nhất thiết phải biết trước điều gì sẽ xảy ra, ngay cả những tình huống trung tính cũng có thể trở nên đáng sợ.

Ví dụ, hai người cùng đứng trước một cuộc phỏng vấn.

Người thứ nhất nghĩ:

“Mình không biết kết quả thế nào. Mình sẽ chuẩn bị tốt nhất có thể rồi đi phỏng vấn.”

Người thứ hai lại nghĩ:

“Nếu mình trượt thì sao? Nếu mình không tìm được việc? Nếu mình thất nghiệp lâu dài? Nếu bạn bè đều tiến xa còn mình thất bại?”

Sự kiện ban đầu chỉ là một buổi phỏng vấn. Nhưng tâm trí đã mở rộng nó thành một câu chuyện về cả cuộc đời.

Đó chính là cách anticipatory anxiety có thể phát triển.

Não bộ đang làm gì khi chúng ta liên tục nghĩ “nếu như”?

Lo âu vốn không phải một cơ chế vô ích.

Khả năng hình dung nguy cơ trong tương lai giúp con người chuẩn bị trước: học bài trước kỳ thi, mang áo mưa khi trời có khả năng mưa hay dành tiền cho những tình huống khẩn cấp.

Vấn đề xuất hiện khi hệ thống dự báo nguy hiểm hoạt động quá mức.

Thay vì hỏi:

“Điều gì có khả năng xảy ra?”

tâm trí bắt đầu hỏi:

“Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là gì?”

Sau đó, điều “có thể xảy ra” dần được cảm nhận như thể “sắp chắc chắn xảy ra”.

Các mô hình nghiên cứu về lo âu cho thấy sự không chắc chắn về những mối đe dọa trong tương lai có thể đóng vai trò đáng kể trong việc hình thành phản ứng lo âu.

Từ đây có thể hình thành một vòng lặp:

Không chắc chắn → tưởng tượng nguy cơ → lo âu → cố tìm sự chắc chắn → tạm thời nhẹ nhõm → lại xuất hiện một câu hỏi mới → tiếp tục lo âu.

Chính vì vậy, một người có thể suy nghĩ hàng giờ mà vẫn không cảm thấy mình đã “nghĩ đủ”.

Dấu hiệu bạn đang dành quá nhiều thời gian để sống trong tương lai

Lo âu về tương lai có thể biểu hiện ở suy nghĩ, cảm xúc, hành vi và cả cơ thể.

Trong suy nghĩ

Người trẻ có thể liên tục dự đoán các tình huống tiêu cực, nghĩ rất nhiều về những sai lầm có thể xảy ra hoặc cảm thấy mình phải chuẩn bị cho mọi khả năng.

Một quyết định nhỏ cũng có thể trở thành vấn đề rất lớn:

“Nếu chọn công việc này rồi hối hận thì sao?”

“Nếu yêu người này nhưng sau này không hợp thì sao?”

“Nếu bỏ cơ hội này rồi không bao giờ có cơ hội khác?”

Tâm trí đòi hỏi một mức độ chắc chắn mà thực tế không thể cung cấp.

Trong cảm xúc và cơ thể

Lo âu có thể đi kèm cảm giác bồn chồn, căng thẳng, khó thư giãn, khó tập trung, dễ cáu gắt, khó ngủ hoặc cảm giác tim đập mạnh, run, vã mồ hôi và khó chịu ở đường tiêu hóa. Đây cũng là những biểu hiện có thể gặp trong các rối loạn lo âu nói chung.

Tuy nhiên, những triệu chứng cơ thể này không đặc hiệu cho lo âu. Nếu có biểu hiện mới xuất hiện, kéo dài hoặc đáng lo ngại, đặc biệt như đau ngực, khó thở, ngất hoặc các triệu chứng thể chất bất thường khác, vẫn cần được đánh giá y khoa phù hợp thay vì mặc định nguyên nhân chỉ là tâm lý.

Trong hành vi

Một dấu hiệu đáng chú ý khác là né tránh.

Một người có thể trì hoãn gửi hồ sơ xin việc vì sợ bị từ chối, không bắt đầu một mối quan hệ vì sợ chia tay, không đi khám vì sợ nhận kết quả xấu hoặc không dám đưa ra quyết định vì sợ lựa chọn sai.

Trớ trêu là né tránh thường giúp giảm lo âu ngay lập tức nhưng có thể làm nỗi sợ kéo dài.

Khi chúng ta luôn tránh tình huống khiến mình lo, não bộ ít có cơ hội học được rằng: “Mình có thể đối mặt với điều này.”

WHO cũng ghi nhận hành vi né tránh thường xuất hiện trong các rối loạn lo âu, trong khi các phương pháp trị liệu dựa trên CBT có thể giúp người bệnh học cách tiếp cận những tình huống gây sợ một cách phù hợp.

Lo âu về tương lai khác với việc biết lo xa như thế nào?

Biết lo xa thường dẫn đến hành động.

Lo âu quá mức thường dẫn đến nhiều suy nghĩ hơn nhưng không tạo thêm giải pháp.

Có thể thử phân biệt bằng một câu hỏi:

“Sau 20 phút suy nghĩ, tôi có biết mình cần làm gì tiếp theo không?”

Nếu câu trả lời là có, bạn có thể đang giải quyết vấn đề.

Nếu câu trả lời vẫn là:

“Không, nhưng tôi cần suy nghĩ thêm để chắc chắn”,

bạn có thể đang mắc kẹt trong vòng lặp lo âu.

Ví dụ:

“Tôi cần chuẩn bị hồ sơ trước thứ Sáu” là kế hoạch.

“Nếu hồ sơ không đủ tốt thì sao? Nếu họ nghĩ tôi kém? Nếu không ai tuyển tôi?” là những dự đoán.

Giải quyết vấn đề hướng đến hành động trong hiện tại.

Lo âu dự đoán cố tìm sự đảm bảo tuyệt đối cho tương lai.

Hai điều này rất khác nhau.

Làm sao để giải tỏa tâm lý lo sợ mơ hồ về tương lai?

Mục tiêu không nên là “không bao giờ được lo”.

Một mục tiêu thực tế hơn là giảm thời gian dành cho những dự đoán không hữu ích và tăng khả năng hành động dù tương lai vẫn chưa chắc chắn.

1. Tách điều đang xảy ra khỏi điều bạn đang tưởng tượng

Khi lo âu tăng cao, hãy thử viết hai câu:

“Điều đang xảy ra là…”

“Điều tôi sợ sẽ xảy ra là…”

Ví dụ:

Điều đang xảy ra: “Tôi gửi CV ba ngày trước và chưa nhận được phản hồi.”

Điều tôi sợ sẽ xảy ra: “Không ai muốn tuyển tôi và sự nghiệp của tôi sẽ thất bại.”

Hai câu này tạo ra một khoảng cách rất quan trọng.

Cảm xúc của bạn là có thật.

Nhưng kịch bản mà cảm xúc đang phản ứng với chưa chắc đã là sự thật.

2. Thay câu hỏi “Nếu xảy ra thì sao?” bằng “Nếu xảy ra, tôi sẽ làm gì?”

Anticipatory anxiety thường khiến con người cố chứng minh rằng điều xấu chắc chắn sẽ không xảy ra.

Nhưng chúng ta hiếm khi có được sự đảm bảo tuyệt đối.

Một cách hữu ích hơn là chuyển từ dự đoán sang khả năng ứng phó.

Thay vì:

“Nếu tôi thất nghiệp thì sao?”

hãy thử:

“Nếu công việc hiện tại không còn phù hợp, tôi có thể thực hiện ba bước nào?”

Thay vì:

“Nếu cuộc phỏng vấn thất bại thì sao?”

hãy hỏi:

“Nếu không được chọn, lựa chọn tiếp theo của tôi là gì?”

Mục tiêu là chuyển trọng tâm từ “Tôi phải kiểm soát tương lai” sang “Tôi có thể ứng phó với tương lai”.

Đây là một thay đổi nhỏ về câu chữ nhưng khá lớn về cách tư duy.

3. Phân biệt điều có thể kiểm soát và điều không thể kiểm soát

Bạn không thể kiểm soát:

Người khác nghĩ gì về bạn.

Một công ty có chọn bạn hay không.

Một mối quan hệ sẽ kéo dài chính xác bao lâu.

Nền kinh tế trong vài năm tới.

Tất cả biến cố có thể xuất hiện trong cuộc đời.

Nhưng bạn có thể tác động đến:

Mức độ chuẩn bị của mình.

Cách sử dụng thời gian hôm nay.

Khả năng học thêm kỹ năng.

Cách giao tiếp trong một mối quan hệ.

Việc chăm sóc sức khỏe.

Khả năng tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần.

Khi nhận ra mình đang lo về tương lai, hãy hỏi:

“Có hành động cụ thể nào tôi có thể thực hiện trong 24 giờ tới không?”

Nếu có, hãy làm hành động đó.

Nếu không, tiếp tục suy nghĩ thường không tạo thêm quyền kiểm soát.

4. Học cách chịu đựng một lượng nhỏ sự không chắc chắn

Nếu mỗi lần bất an chúng ta ngay lập tức tìm kiếm sự trấn an, não bộ có thể học rằng:

“Không chắc chắn là nguy hiểm và tôi không chịu được nó.”

Do đó, một phần quan trọng trong việc xử lý lo âu là dần trải nghiệm sự không chắc chắn ở mức có thể chịu đựng được.

Ví dụ, không kiểm tra email mỗi năm phút.

Không hỏi đi hỏi lại người yêu rằng “Anh/em còn yêu tôi không?”

Không tìm hàng chục bài viết để chắc chắn một triệu chứng nhỏ không phải bệnh nguy hiểm.

Không trì hoãn mãi một quyết định chỉ vì chưa chắc chắn 100%.

Khó dung nạp sự không chắc chắn được xem là yếu tố xuyên chẩn đoán có liên quan đến nhiều dạng lo âu; các cách tiếp cận tâm lý tập trung vào cách con người phản ứng với bất định cũng đã được nghiên cứu trong điều trị lo âu.

Điều cần học không phải là “mọi chuyện chắc chắn sẽ tốt”.

Mà là:

“Tôi chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra, và tôi vẫn có thể tiếp tục cuộc sống.”

5. Đừng biến việc chuẩn bị thành một hình thức né tránh

Có một ranh giới khá tinh tế giữa chuẩn bị và cố kiểm soát.

Chuẩn bị cho bài thuyết trình là hữu ích.

Viết lại bài thuyết trình 30 lần vì sợ có một lỗi nhỏ có thể không còn hữu ích.

Tìm hiểu về một quyết định nghề nghiệp là hợp lý.

Đọc thêm 100 bài đánh giá chỉ vì không dám lựa chọn có thể là một hình thức trì hoãn do lo âu.

Hãy đặt giới hạn cho quá trình chuẩn bị.

Ví dụ:

“Tôi sẽ dành hai ngày tìm hiểu ba lựa chọn, sau đó đưa ra quyết định dựa trên thông tin hiện có.”

Trong cuộc sống trưởng thành, rất nhiều quyết định tốt không được đưa ra trong điều kiện chắc chắn tuyệt đối.

Chúng được đưa ra với lượng thông tin “đủ tốt”.

6. Đưa tâm trí trở lại hiện tại

Khi anticipatory anxiety xuất hiện, cơ thể có thể phản ứng như thể nguy cơ tương lai đang xảy ra ngay bây giờ.

Lúc này, các kỹ thuật điều hòa cơ thể có thể giúp giảm mức kích hoạt.

Bạn có thể thử:

Thở chậm hơn bình thường, đặc biệt kéo dài nhịp thở ra.

Quan sát cảm giác bàn chân chạm sàn.

Nhìn quanh và gọi tên những vật đang có trước mắt.

Thả lỏng có chủ đích các vùng cơ đang căng.

Đi bộ nhẹ hoặc vận động.

Dành vài phút quan sát suy nghĩ mà không cố tranh luận với từng suy nghĩ.

WHO ghi nhận các kỹ năng quản lý căng thẳng như thư giãn, thở chậm, hoạt động thể chất và mindfulness có thể hỗ trợ kiểm soát triệu chứng lo âu.

Nhưng cần hiểu đúng: mục tiêu của những kỹ thuật này không phải là “xóa sạch mọi lo âu”.

Chúng giúp cơ thể giảm trạng thái báo động để bạn có thể suy nghĩ linh hoạt hơn.

7. Hạn chế “tiêu thụ tương lai” quá mức

Người trẻ ngày nay có thể tiếp xúc liên tục với những câu chuyện về thành công, thất bại, khủng hoảng kinh tế, bệnh tật, thất nghiệp, chia tay hoặc những cuộc đời tưởng như hoàn hảo của người khác.

Thông tin có thể hữu ích. Nhưng nếu bạn liên tục dùng thông tin để cố dự đoán tương lai của chính mình, nó có thể trở thành nhiên liệu cho lo âu.

Bạn có thể cần điều chỉnh cách sử dụng mạng xã hội hoặc tin tức nếu nhận thấy mình thường:

So sánh tiến độ cuộc đời với người khác.

Tìm kiếm thông tin tiêu cực nhiều giờ.

Đọc bình luận để cố xác định “liệu tương lai có ổn không”.

Liên tục kiểm tra dự báo, thị trường, tin tuyển dụng hoặc sức khỏe dù không có hành động cụ thể cần thực hiện.

Điều cần giảm không nhất thiết là Internet.

Điều cần giảm là hành vi kiểm tra nhằm tìm kiếm cảm giác chắc chắn tuyệt đối.

8. Giữ những nền tảng sinh hoạt tưởng như rất đơn giản

Thiếu ngủ, sử dụng quá nhiều caffeine, ít vận động hoặc sử dụng rượu và các chất để đối phó với căng thẳng có thể khiến việc điều hòa cảm xúc khó khăn hơn.

WHO khuyến nghị người đang có triệu chứng lo âu duy trì lịch ngủ và ăn uống tương đối đều, hoạt động thể chất, hạn chế rượu và tránh các chất bất hợp pháp.

Đây không phải là “phương pháp chữa lo âu”.

Nhưng một hệ thần kinh kiệt sức thường khó đối mặt với sự không chắc chắn hơn một cơ thể được nghỉ ngơi tương đối đầy đủ.

Khi nào lo âu về tương lai không còn đơn thuần là lo lắng bình thường?

Không phải cứ lo về tương lai là mắc rối loạn lo âu.

Lo âu cần được quan tâm nhiều hơn khi trở nên quá mức, khó kiểm soát, kéo dài và bắt đầu cản trở học tập, công việc, giấc ngủ, các mối quan hệ hoặc sinh hoạt hằng ngày. WHO cũng sử dụng mức độ dai dẳng, khó kiểm soát, gây đau khổ và suy giảm chức năng như những điểm quan trọng để phân biệt rối loạn lo âu với lo lắng thông thường.

Bạn nên cân nhắc trao đổi với bác sĩ hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần khi:

Nỗi lo xuất hiện phần lớn thời gian trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng.

Bạn mất ngủ thường xuyên vì suy nghĩ về tương lai.

Bạn ngày càng tránh học tập, công việc, giao tiếp hoặc những quyết định cần thiết.

Bạn liên tục cần người khác trấn an mới cảm thấy an toàn.

Các cơn hoảng sợ hoặc triệu chứng cơ thể xuất hiện thường xuyên.

Bạn sử dụng rượu, thuốc hoặc chất khác để giảm lo âu.

Lo âu đi kèm trầm cảm, tuyệt vọng hoặc suy giảm đáng kể chất lượng cuộc sống.

Nếu xuất hiện ý nghĩ tự gây tổn thương, tự sát hoặc cảm thấy không thể giữ an toàn cho bản thân, cần tìm hỗ trợ trực tiếp khẩn cấp từ người thân đáng tin cậy và cơ sở y tế gần nhất.

Trị liệu tâm lý có thể giúp gì với anticipatory anxiety?

Trị liệu không nhằm bảo đảm rằng tương lai sẽ không có chuyện xấu.

Mục tiêu quan trọng hơn là giúp một người thay đổi cách mình phản ứng với sự không chắc chắn.

Các phương pháp dựa trên liệu pháp nhận thức – hành vi (CBT) hiện nằm trong số những can thiệp tâm lý có bằng chứng tốt nhất đối với nhiều rối loạn lo âu. Những kỹ thuật có thể bao gồm nhận diện cách diễn giải thảm họa, kiểm tra lại niềm tin, giảm hành vi né tránh, tiếp xúc dần với điều gây sợ và phát triển những cách ứng phó thích nghi hơn.

Tùy từng trường hợp, chuyên gia cũng có thể làm việc với những vấn đề sâu hơn như:

Sợ thất bại.

Chủ nghĩa hoàn hảo.

Nhu cầu kiểm soát.

Mặc cảm “mình chưa đủ tốt”.

Áp lực thành tích.

Khó khăn trong các mối quan hệ.

Sợ bị từ chối hoặc bỏ rơi.

Những trải nghiệm trong quá khứ khiến người đó luôn phải chuẩn bị cho nguy hiểm.

Không phải ai có anticipatory anxiety cũng cần trị liệu. Nhưng khi nỗi lo đã trở thành một vòng lặp khó tự thoát ra, việc được đánh giá chuyên môn có thể giúp xác định điều gì đang thực sự duy trì vấn đề.

Có cần dùng thuốc khi luôn lo sợ về tương lai không?

Không thể quyết định việc dùng thuốc chỉ dựa trên triệu chứng “hay lo về tương lai”.

Bác sĩ cần đánh giá toàn cảnh triệu chứng, mức độ suy giảm chức năng, thời gian kéo dài, các bệnh lý cơ thể, thuốc đang sử dụng, giấc ngủ, chất kích thích và khả năng có một rối loạn tâm thần cụ thể.

Đối với các rối loạn lo âu được chẩn đoán, trị liệu tâm lý và một số nhóm thuốc đều có thể đóng vai trò tùy từng trường hợp. WHO ghi nhận các thuốc chống trầm cảm như nhóm SSRI có thể hữu ích đối với một số người trưởng thành mắc rối loạn lo âu, trong khi benzodiazepine nhìn chung không được ưu tiên sử dụng kéo dài vì nguy cơ phụ thuộc và hạn chế về hiệu quả lâu dài.

Không nên tự mua hoặc tự điều chỉnh thuốc an thần chỉ để “dập” cảm giác bất an.

Chăm sóc Thân – Tâm khi lo âu biểu hiện qua cơ thể

Không ít người đến cơ sở y tế vì mất ngủ, hồi hộp, mệt mỏi, căng cơ, giảm tập trung, giảm ham muốn hoặc các vấn đề sức khỏe khác trước khi nhận ra rằng căng thẳng và lo âu cũng có thể đang góp phần vào trải nghiệm của mình.

Điều này không có nghĩa mọi triệu chứng cơ thể đều do tâm lý.

Mối liên hệ giữa sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần có tính hai chiều. WHO cũng lưu ý rằng các vấn đề sức khỏe thể chất có thể ảnh hưởng đến lo âu và ngược lại.

Vì vậy, cách tiếp cận phù hợp thường không phải lựa chọn giữa “Thân” hoặc “Tâm”, mà là đánh giá đầy đủ cả hai khi cần.

Văn phòng Tâm lý Men’s Health thuộc hệ sinh thái Trung tâm Sức khỏe Nam giới Men’s Health do TS.BS.CK2 Trà Anh Duy sáng lập, được xây dựng theo hướng kết nối chăm sóc tâm lý với thăm khám và điều trị y khoa.

Với góc nhìn phối hợp giữa bác sĩ và nhà tâm lý, việc đánh giá không chỉ dừng lại ở triệu chứng cơ thể mà còn xem xét cảm xúc, suy nghĩ, hành vi, mối quan hệ, công việc và hoàn cảnh sống của mỗi người.

Mô hình chăm sóc Thân – Tâm kết hợp có thể đặc biệt hữu ích với những trường hợp mà mất ngủ, mệt mỏi, giảm ham muốn, khó khăn tình dục, căng thẳng và lo âu xuất hiện đan xen. Mục tiêu không phải quy mọi triệu chứng về tâm lý, mà là giảm nguy cơ bỏ sót những yếu tố quan trọng và giúp quá trình chăm sóc trở nên toàn diện hơn trong môi trường chuyên nghiệp, kín đáo và tôn trọng cá nhân.

Lo âu về tương lai – Những câu hỏi thường gặp

1. Lo âu về tương lai có phải bệnh tâm thần không?

Không nhất thiết. Lo lắng trước những sự kiện chưa xảy ra là trải nghiệm khá phổ biến. Chỉ khi triệu chứng quá mức, kéo dài, khó kiểm soát và gây suy giảm đáng kể cuộc sống mới cần đánh giá khả năng có một rối loạn lo âu hoặc vấn đề sức khỏe tâm thần khác.

2. Tại sao tôi biết mình đang nghĩ quá nhiều nhưng vẫn không dừng được?

Bởi lo âu không chỉ là vấn đề logic. Suy nghĩ thường đóng vai trò như một nỗ lực tìm kiếm sự chắc chắn và cảm giác an toàn. Càng cố giải quyết những câu hỏi không có đáp án chắc chắn, bạn đôi khi càng tạo thêm câu hỏi mới.

3. Overthinking có giống anticipatory anxiety không?

Không hoàn toàn. Overthinking là thuật ngữ phổ thông mô tả tình trạng suy nghĩ quá mức. Anticipatory anxiety cụ thể hơn ở chỗ nỗi lo tập trung vào những nguy cơ hoặc sự kiện có thể xảy ra trong tương lai.

4. Tại sao lo về tương lai thường tăng mạnh vào ban đêm?

Ban đêm thường có ít hoạt động và yếu tố gây phân tán chú ý hơn, khiến những suy nghĩ chưa được xử lý trong ngày trở nên nổi bật. Mất ngủ và lo âu cũng có thể tác động qua lại, tạo thành vòng lặp khiến việc thư giãn ngày càng khó.

5. Làm sao ngừng suy nghĩ về những điều chưa xảy ra?

Thay vì cố buộc mình “không được nghĩ”, hãy nhận diện đâu là sự thật hiện tại, đâu là dự đoán; xác định hành động mình có thể thực hiện và dần chấp nhận rằng một số câu hỏi chưa thể có đáp án ngay bây giờ.

6. Thiền có chữa được lo âu về tương lai không?

Mindfulness có thể hỗ trợ một số người quan sát suy nghĩ mà không lập tức bị cuốn theo chúng, nhưng không nên coi đây là phương pháp đảm bảo loại bỏ lo âu. Với triệu chứng kéo dài hoặc nghiêm trọng, cần đánh giá các phương án hỗ trợ phù hợp hơn.

7. Người hay lo về tương lai có phải là người yếu tâm lý không?

Không. Lo âu chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội. WHO nhấn mạnh các rối loạn lo âu hình thành từ sự tương tác phức tạp giữa những yếu tố này chứ không đơn thuần phản ánh sức mạnh hay sự yếu đuối của một cá nhân.

8. Khi nào nên gặp nhà tâm lý vì anticipatory anxiety?

Bạn có thể cân nhắc tìm hỗ trợ khi nỗi lo lặp đi lặp lại, gây mất ngủ, né tránh, ảnh hưởng học tập hoặc công việc, cản trở các mối quan hệ hoặc khiến bạn cảm thấy mình không còn kiểm soát được cuộc sống như trước.

Kết luận: Bạn không cần biết chắc tương lai mới có thể sống tốt hôm nay

Một trong những điều khó nhất của tuổi trưởng thành là chấp nhận rằng rất nhiều câu hỏi quan trọng không có đáp án chắc chắn ngay lập tức.

Bạn có thể chưa biết mình sẽ làm nghề gì trong mười năm tới.

Bạn chưa biết một mối quan hệ sẽ đi đến đâu.

Bạn cũng không thể bảo đảm mọi quyết định mình đưa ra đều hoàn hảo.

Nhưng sức khỏe tâm lý không đòi hỏi chúng ta phải kiểm soát toàn bộ tương lai.

Điều có thể học được là khả năng nhận ra khi tâm trí đang dự đoán quá xa, quay trở lại với những gì đang thực sự xảy ra, thực hiện hành động nằm trong khả năng kiểm soát và chấp nhận một phần không chắc chắn vốn có của cuộc sống.

Nếu lo âu về tương lai đã kéo dài, khiến bạn mất ngủ, liên tục né tránh hoặc cảm thấy kiệt sức vì những kịch bản “nếu như”, việc trao đổi với bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý không đồng nghĩa bạn yếu đuối hay thất bại trong việc tự giải quyết vấn đề. Đó có thể đơn giản là một cách để hiểu rõ hơn điều gì đang duy trì nỗi lo và học những phương pháp ứng phó phù hợp hơn.

Văn phòng Tâm lý Men’s Health có thể hỗ trợ theo mô hình kết hợp y khoa và tâm lý, xem xét đồng thời sức khỏe thể chất, cảm xúc và hoàn cảnh sống khi cần thiết. Mục tiêu là giúp mỗi người được đánh giá toàn diện, kín đáo và tôn trọng, thay vì chỉ tập trung vào một triệu chứng riêng lẻ.

You may also like

Chat Zalo

0888373979